Chưa phân loại

Một số điểm mới đáng chú ý tại NGHỊ ĐỊNH 283/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động và bảo hiểm xã hội

31/07/2026 Admin_Luat 9 phút đọc

Ngày 15/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Nghị định này sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 10/9/2026, thay thế Nghị định số 12/2022/NĐ-CP, đánh dấu nhiều thay đổi quan trọng trong chính sách xử phạt nhằm tăng cường tính răn đe, bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước cũng như bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Dưới đây là một số điểm mới nổi bật mà doanh nghiệp, người sử dụng lao động và người lao động cần đặc biệt lưu ý.

1. Tăng thời hiệu xử phạt đối với vi phạm liên quan đến người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Một trong những thay đổi đáng chú ý của Nghị định 283/2026/NĐ-CP là việc phân biệt thời hiệu xử phạt theo từng lĩnh vực vi phạm, thay vì áp dụng chung như trước đây.

Theo khoản 4 Điều 3 Nghị định 283/2026/NĐ-CP:

  • Thời hiệu xử phạt đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động và bảo hiểm xã hội là 01 năm;
  • Riêng đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, thời hiệu xử phạt được nâng lên 02 năm.

Đây là sự thay đổi đáng kể, thể hiện xu hướng tăng cường quản lý đối với hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Việc kéo dài thời hiệu xử phạt sẽ tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xác minh và xử lý các hành vi vi phạm vốn thường có tính chất phức tạp, diễn ra trong thời gian dài hoặc phát sinh ở nhiều quốc gia khác nhau.

 

2. Bổ sung cơ chế xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử

Một điểm mới đáng chú ý khác là Nghị định 283/2026/NĐ-CP đã ghi nhận việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước.

Theo Điều 6 của Nghị định, việc lập biên bản, gửi quyết định xử phạt và các tài liệu liên quan trong quá trình xử lý vi phạm hành chính có thể được thực hiện bằng phương thức điện tử khi đáp ứng đầy đủ điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, dữ liệu và hệ thống thông tin theo quy định của pháp luật.

Việc gửi các biên bản, quyết định và các tài liệu khác trong xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử được thực hiện thông qua một trong các phương thức sau:

– Gửi đến địa chỉ thư điện tử của người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, bị xử phạt đã thông báo với người có thẩm quyền;

– Gửi qua ứng dụng định danh quốc gia/tài khoản định danh điện tử (có xác thực mức độ 2 trở lên) hoặc gửi qua ứng dụng được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của ngành, lĩnh vực, địa phương;

– Gửi tin nhắn SMS đến số điện thoại của người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, bị xử phạt đã thông báo với người có thẩm quyền;

– Gửi đến địa chỉ thư điện tử của cơ quan thu tiền phạt và cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành.

Quy định này không chỉ góp phần rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc mà còn nâng cao hiệu quả quản lý, giảm chi phí hành chính và tăng tính minh bạch trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

 

3. Tăng cường bảo vệ dữ liệu và xử lý nghiêm các hành vi có dấu hiệu tội phạm

Trong bối cảnh dữ liệu lao động và dữ liệu bảo hiểm xã hội ngày càng được số hóa, Nghị định 283/2026/NĐ-CP cũng cho thấy xu hướng siết chặt trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng liên quan đến dữ liệu của người lao động.

Đáng chú ý, đối với những hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, đặc biệt là hành vi khai thác, sử dụng trái phép dữ liệu lao động hoặc dữ liệu bảo hiểm xã hội, cơ quan có thẩm quyền không chỉ dừng lại ở việc xử phạt hành chính mà còn có thể chuyển hồ sơ đến cơ quan tiến hành tố tụng để xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Điều này thể hiện quan điểm lập pháp ngày càng nghiêm khắc đối với hành vi xâm phạm dữ liệu cá nhân, đồng thời phù hợp với xu hướng tăng cường bảo vệ quyền riêng tư và an toàn thông tin trong môi trường số.

 

4. Mức phạt trốn đóng BHXH bắt buộc áp dụng từ ngày 10/9/2026

Theo quy định Điều 44 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày 10/9/2026. Mức phạt trốn đóng BHXH bắt buộc như sau:

  1. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội theo một trong các mức sau đây:
Số người vi phạm Mức phạt
Dưới 10 người lao động 6.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng
Từ 10 người đến dưới 50 người lao động 12.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng
Từ 50 người đến dưới 100 người lao động 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng
Từ 100 người đến dưới 300 người lao động 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng
Từ 300 người đến dưới 500 người lao động 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng
Từ 500 người đến dưới 700 người lao động 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng
Từ 700 người đến dưới 1.000 người lao động 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng
Từ 1.000 người lao động trở lên 70.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng
  1. Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội sau đây:
  • Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội;
  • Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
  1. Biện pháp khắc phục hậu quả
  • Buộc người sử dụng lao động lập hồ sơ đăng ký hoặc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động; đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này;
  • Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.

 

5. Người sử dụng lao động trả lương không đúng hạn cho người lao động bị phạt tiền lên đến 100 triệu đồng

Theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, phạt tiền đối với người người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau:

  • Trả lương không đúng hạn theo quy định của pháp luật; 
  • Không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động; 
  • Không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ; 
  • Không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm việc vào ban đêm; 
  • Không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; 
  • Hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định; 
  • Khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật; 
  • Không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo quy định cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động hoặc trong thời gian đình công; 
  • Không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm; 
  • Không tạm ứng hoặc tạm ứng không đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo quy định của pháp luật; 
  • Không trả đủ tiền lương cho người lao động cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc trong trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động.

Các mức xử phạt cụ thể như sau:

  • Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
  • Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
  • Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
  • Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
  • Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Lưu ý, mức phạt đối đa trên áp dụng đối với cá nhân, đối với tổ chức thì mức phạt sẽ gấp 02 lần theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định này.